Bạch cầu cấp tính dòng tế bào tủy xương (AML): Chẩn đoán, điều trị

Khi người bệnh được xác định mắc bạch cầu cấp tính dòng tế bào tủy xương sẽ quan tâm đến vấn đề bệnh bạch cầu tủy có chữa được không và cách điều trị căn bệnh này ra sao. Hiểu rõ bệnh và làm đúng hướng dẫn của bác sĩ là việc làm vô cùng cần thiết.

1. Bệnh bạch cầu tủy có chữa được không?

Bạch cầu cấp tính dòng tế bào tủy xương là loại ung thư mà tế bào ung thư là các tế bào non và chúng bắt đầu trong tủy xương (phần mềm bên trong xương, nơi tạo ra các tế bào máu mới). Như tên gọi, “cấp” – bệnh sẽ tiến triển rất nhanh nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể diễn tiến đến tử vong chỉ trong vòng vài tuần đến vài tháng. Các tế bào ung thư nhanh chóng đi ra máu tuần hoàn trong cơ thể. Bệnh để lâu không can thiệp điều trị, các tế bào ung thư có thể lan ra một số cơ quan khác trong cơ thể như gan, lách, hạch, hệ thần kinh trung ương,..

Các tế bào ung thư trong ung thư máu cấp là các tế bào non, có tốc độ tiến triển nhanh vì các tế bào non phân chia rất nhanh, thậm chí phân chia không kiểm soát. Bạch cầu cấp dòng tủy được chia thành nhiều loại khác nhau, bệnh bạch cầu tuỷ có chữa được không phụ thuộc vào loại bạch cầu cấp tuỷ mắc phải. Bởi một số loại ung thư máu cấp đáp ứng rất tốt với điều trị, vì vậy khả năng khỏi bệnh ở bệnh nhân này là có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, với một số loại ung thư máu khác, tiên lượng có thể xấu hơn. Mỗi loại bạch cầu cấp dòng tủy khác nhau có thể có cách điều trị và tiên lượng bệnh khác nhau.

Hình ảnh bạch cầu cấp dòng tủy

2. Chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp tính dòng tế bào tủy xương

Nếu bệnh nhân có tín hiệu hoặc triệu chứng của bệnh AML, bác sĩ hoàn toàn có thể khuyên bệnh nhân nên triển khai những xét nghiệm chẩn đoán sau đây :

  • Xét nghiệm máu: Hầu hết những người mắc bệnh AML khi xét nghiệm máu ung thư cho thấy có quá nhiều tế bào bạch cầu nhưng lại không đủ hồng cầu và không đủ tiểu cầu. Sự hiện diện của các tế bào non (blast cells) là các tế bào chưa trưởng thành thường được tìm thấy trong tủy xương nhưng không lưu thông trong vòng tuần hoàn.
  • Sinh thiết tủy xương: Xét nghiệm máu có thể gợi ý bệnh bạch cầu nhưng thường phải làm xét nghiệm tủy xương để xác định chính xác nhất. Trong sinh thiết tủy xương, bác sĩ sẽ sử dụng kim chuyên dụng để chọc lấy tủy xương ở vị trí đỉnh chóp của mặt sau xương chậu (mào chậu sau).
  • Chọc dò tủy sống: Trong một số trường hợp, có thể cần phải lấy dịch lỏng xung quanh tủy sống của bệnh nhân để kiểm tra các tế bào bạch cầu. Bác sĩ sẽ lấy bằng cách sử dụng kim chuyên dụng để đưa vào vị trí dưới mức chóp tủy sống, kéo dài đến đốt sống L1-L2 ở người lớn.
  • Xét nghiệm gen: Các xét nghiệm về các tế bào ung thư bạch cầu có thể xác định các thay đổi di truyền hay đột biến gen cụ thể gây ra ung thư, thay đổi nhiễm sắc thể và các vấn đề khác điển hình của bệnh bạch cầu. Điều này có thể giúp bác sĩ xác định, tiên lượng và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp.

Xét nghiệm xác định phân loại AML

Nếu bác sĩ đã xác định rằng người bệnh mắc AML, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện thêm một số xét nghiệm để xác định mức độ ung thư và phân loại AML cụ thể hơn.

Bệnh AML khác so với những bệnh ung thư khác do bệnh này thường không hình thành khối u mà nó lan rộng khắp tủy xương và lan sang những cơ quan khác như gan và lá lách. Do đó, bệnh AML không được phân quy trình tiến độ như hầu hết những bệnh ung thư khác. Thay vào đó, bác sĩ sẽ dựa vào những thông tin khác như phân nhóm AML, tuổi người bệnh và tác dụng xét nghiệm khác .Việc biết được loại AML rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng tác động đến cả tiên lượng của bệnh nhân và xác lập cách điều trị tốt nhất. Ví dụ, trong bệnh AML có bệnh bạch cầu cấp tính ( APL ) thường được điều trị bằng cách sử dụng những loại thuốc khác với những loại được sử dụng cho những loại AML .Hiện nay, có hai mạng lưới hệ thống chính được sử dụng để phân loại AML là phân loại Pháp-Mỹ-Anh ( FAB ) và một phiên bản mới hơn của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ) .

3. Điều trị bệnh bạch cầu cấp tính dòng tế bào tủy xương

Hóa trị

Điều trị bệnh AML phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm cả loại AML, tuổi, sức khỏe tổng quát và nguyện vọng của người bệnh.Nhìn chung, điều trị được thực hiện vào hai giai đoạn:

  • Điều trị thuyên giảm (Remission induction therapy): Mục đích của giai đoạn điều trị đầu tiên này là tiêu diệt các tế bào bạch cầu trong máu và tủy xương. Tuy nhiên, phương pháp này thường không tiêu diệt được hết tất cả các tế bào ung thư bạch cầu, vì vậy người bệnh thường cần điều trị thêm để ngăn ngừa bệnh quay trở lại.
  • Điều trị củng cố (Consolidation therapy): Cũng được gọi là điều trị sau thuyên giảm nhằm duy trì hoặc tăng cường kết quả điều trị đã đạt được ở giai đoạn trước. Giai đoạn điều trị này nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư bạch cầu còn lại, điều này rất quan trọng để giảm nguy cơ tái phát sau này.

Các liệu pháp được sử dụng trong hai giai đoạn trên bao gồm:

  • Hóa trị: Hóa trị là phương pháp chính của điều trị thuyên giảm, mặc dù nó cũng có thể được sử dụng để điều trị củng cố. Hóa trị sử dụng hóa chất đặc biệt để tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể.
  • Những người mắc AML thường ở lại bệnh viện trong quá trình điều trị hóa trị vì thuốc phá hủy nhiều tế bào máu khoẻ mạnh trong quá trình tiêu diệt tế bào ung thư bạch cầu. Nếu chu kỳ hóa trị đầu tiên không tiêu diệt được tế bào ung thư như yêu cầu thì chu kỳ này có thể được lặp lại.
  • Điều trị đích: Phương pháp này sử dụng các loại thuốc tấn công các vị trí có thể tấn công được trên các tế bào ung thư. Thuốc midostaurin (Rydapt) ngăn chặn hoạt động của một loại enzyme trong các tế bào bạch cầu và khiến tế bào này chết. Midostaurin chỉ hữu ích cho những người ung thư có đột biến FLT3. Thuốc này được sản xuất dưới dạng thuốc viên.
  • Điều trị bằng thuốc khác: Asen trioxide (Trisenox) và axit retinoic all-trans (ATRA) là các loại thuốc chống ung thư có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với hóa trị liệu để điều trị một loại của AML là APL (acute promyelocytic leukemia). Những loại thuốc này khiến các tế bào ung thư bạch cầu bị đột biến gen để trưởng thành và chết hoặc ngừng phân chia.
  • Cấy ghép tủy xương: Ghép tủy xương hay còn được gọi là ghép tế bào gốc. Ghép tủy xương giúp tái sản xuất các tế bào gốc khỏe mạnh bằng cách thay thế tủy xương bệnh bằng các tế bào gốc không có bệnh bạch cầu sẽ giúp cơ thể tái tạo tủy xương khỏe mạnh. Trước khi ghép tủy xương, người bệnh sẽ được hóa trị liệu hoặc xạ trị liều rất cao để tiêu diệt tủy xương sản xuất bệnh bạch cầu. Sau đó, người bệnh sẽ được nhận tế bào gốc từ người hiến tặng tương thích. Người bệnh cũng có thể nhận được các tế bào gốc của chính mình (ghép tự thân) nếu trước khi điều trị thuyên giảm và người bệnh đã trích xuất các tế bào gốc khỏe mạnh để lưu trữ cho lần cấy ghép trong tương lai.

Nếu có triệu chứng không bình thường, bạn nên được thăm khám và tư vấn với bác sĩ chuyên khoa .

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số

hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY.
Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec
để được giảm ngay 20% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/8 – 31/12/2022).
Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn
tư vấn từ xa qua video
với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.


Có thể bạn quan tâm
© Copyright 2008 - 2016 Dịch Vụ Bách khoa Sửa Chữa Chuyên nghiệp.
Alternate Text Gọi ngay